[ New messages · Members · Forum rules · Search · RSS ]
Page 1 of 11
Diễn đàn thảo luận » ..:: Thế giới cộng đồng ::.. » Khoa học thường thức » Lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
adminNgày: Thứ tư, 02/10/2013, 13:15:42 | Hộp thư # 1
Bính
Nhóm: Quản trị viên
Hộp thư: 67
Giải thưởng: 0
Danh tiếng: 0
Tình trạng: Ngoại tuyến
Điểm qua các lịch đã được sử dụng ở Việt Nam từ xưa đến nay: Việc nghiên cứu, phục hồi cổ lịch vượt ra ngoài nội dung này
nên chỉ trình bày một số tóm lược dựa chủ yếu vào các công trình nghiên
cứu về lĩnh vực này của Gs. Hoàng Xuân Hãn và Pgs. Lê Thành Lân - những
trích lục từ các nguồn sử liệu khác cũng được lấy lại từ hai tác giả
trên. Ngoài ra có một số ý kiến chưa được kiểm chứng kỹ hay nhất trí
rộng rãi cũng được đưa vào để bạn đọc tham khảo, hy vọng trong tương lai
sẽ có một bức tranh đầy đủ hơn về lịch Việt Nam qua các giai đọan lịch
sử .


Lịch trong xã hội xưa:


      Lịch giữ một vị trí đặc biệt trong quan niệm của người
á đông thời xưa, ở Trung Hoa lịch được xem là lệnh trời bày cho dân để
theo đó mà làm nông vụ cũng như tế lễ, còn vua là thiên tử, thay trời
trị vì thiên hạ và hàng năm ban lịch cho thần dân và các nước phiên
bang. ở Việt Nam mỗi năm lễ ban lịch gọi là Ban Sóc cũng được tổ chức
rất long trọng có nhà vua và hàng trăm văn võ bá quan tham dự. Các cơ
quan làm lịch ở nước ta trước đây rất quy củ, Thời Lý có Lầu chính
Dương, Thời Trần có Thái sử Cục, thời Lê có Thái Sử Viện, thời Lê Trung
Hưng có Tư Thiên Giám, thời Nguyễn có Khâm Thiên Giám…Các cơ quan này
không chỉ làm lịch mà còn "Coi các việc": suy lượng độ số của trời, làm
lịch, báo thời tiết, như thấy việc tai dị hay điềm lành, được suy luận
làm khải trình lên’


      Trích từ Nguyên sử và Đại việt sử ký toàn thư” thì vào
thời trần (1301), Đặng Nhữ Lâm khi đi sứ sang Nguyên đã bí mật vẽ đại
đồ Cung Uyển, thành Bắc Kinh, mang sách cấm về, sự việc lộ ra và bị vua
Nguyên trách cứ. Có thể trong các sách cấm đó có thư tịch về lịch pháp
nên sau này con cháu ông là đặng Lộ ra làm quan Thái sử cục lệnh Nghi
hậu lang đã chế ra Lung linh nghi để khảo sát hiên tượng tỏ ra rất đúng
và vào năm 1339 đặng Lộ trình vua Trần Hiến Tông xin đổi lịch thụ thời
sang lịch Hiệp kỷ đã được vua chấp thuận.


      Như vậy các cơ quan làm lịch bao gồm cả chức năng dự
báo thời tiết, thiên văn và chiêm tinh học. Tuy nhiên, hiện nay tư liệu
về lịch Việt Nam còn lại rất ít nguyên nhân một phần do khí hậu nhiệt
đới nóng ẩm, chiến tranh liên miên tàn phá, một phần do lịch pháp gần
như là một thứ bí thuật không phổ biến, cộng với việc khoa học nhất là
khoa học tự nhiên không được chú trọng phát triển trong thời phong kiến.
Điều này gây trở ngại cho việc tìm hiểu về lịch Việt Nam trong quá khứ
và đó cũng là lý do khiến các nghiên cứu về lịch ở nước ta rất hiếm hoi.


      Các nhân vật nổi tiếng trong lịch pháp thời xưa có
Đặng Lộ, Trần Nguyên Đán vào cuối thời Trần (1325-1390) và Trần Hữu Thận
(1754-1831), Nguyễn Hữu Hồ (1783-1844) ở thời Nguyễn … Trần Nguyên Đán
là người thông hiểu thiên văn , lịch pháp và đã viết sách Bách thế Thông
kỷ tiếc rằng đến nay không còn, ông chính là cháu tằng tôn Trần Quang
Khải là ngoại tổ Nguyễn Trãi.


      Liên quan đến nguồn sử liệu còn có các cuốn lịch cổ
đáng chú ý sau: Khâm định vạn niên thư (lưu trữ tại thư viện quốc gia Hà
Nội) in lịch từ năm 1544 đến năm 1903, trong đó các năm từ 1850 trở đi
là lịch dự soạn cho thời gian tới, Bách Trúng kinh ( lưu giữ tại Viện
hán nôm) in lịch thời Lê Trung HƯng ( Lê - Trịnh) từ năm 1624 đến năm
1785, Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh (lưu giữ tại Viện hán nôm ) in
lịch từ năm 1740 đến năm 1883, ngoài ra còn cuốn Bách trúng kinh khác
thấy ở Hà nội năm 1944, sách này chép lịch từ năm 1624 đến năm 1799
nhưng nay không còn.


Lịch Việt cổ và nguồn gốc Lịch Âm Dương Á Đông:


      Lịch âm Dương Á Đông mà Trung Quốc và Việt Nam đang sử
dụng hiện nay được xem là lịch nhà Hạ (2140 trước c.n -1711 trước c.n ,
tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng Lịch Âm Dương là kết quả của sự giao
thoa văn hoá giữa hai vùng Hoa Bắc và Hoa NAm của Bách Việt hay Việt cổ.
Vùng Hoa Bắc trồng kê mạch và chăn nuôi còn vùng hoa Nam tiêu biểu cho
nền văn minh lúa nước. Lịch với chức năng chính là phục vụ nông nghiệp
(tục gọi là lịch nhà nông) nên phải phù hợp với thời tiết khí hậu của
vùng hoa Nam là vựa thóc chính của trung Hoa. Mặt khác sử sách cũng ghi
lại một số tư liệu về sự tồn tại lịch của người Việt cổ như truyền
thuyết về lịch rùa mà Việt Thường thị khi sang chầu đã dâng lên vua
Nghiêu đời Đào đường ( Sách Việt sử thông giám cương mục) hoặc theo thư
của Hoài Nam Vương Lưu An gửi vua nhà Hán (Thế kỷ 2 trước c.n) thì “ từ
thời Tam đại thịnh trị đất Hồ đất Việt không tuân theo lịch của Trung
Quốc” (Đại việt sử ký toàn thư).Ngoài ra cũng có những bằng cớ chứng tỏ
là từ lâu trước thời kỳ Bắc thuộc cư dân nước Văn Lang đã sử dụng một
thứ lịch riêng, chẳng hạn các tư liệu về lịch của dân tộc Mường và nhứng
điều được miêu tả trong Đại Nam thống nhất chí: “ Thổ dân ở huyện Bất Bạt và Mỹ Lương, hàng năm lấy tháng 11 làm đầu năm, hàng tháng lấy
ngày 2 làm đầu tháng, gọi là ngày lui tháng tiến, lại gọi là ngày nội,
dùng trong dân gian, còn ngày quan lịch, thì gọi là ngày ngoại, chỉ dùng
khi có việc quan”.


Lịch Việt Nam trong các giai đoạn khác nhau


      Các sự kiện lịch sử ở nước ta vốn được ghi chép theo
theo Lịch âm Dương Á Đông và để có một niên biểu lịch sử chính xác cần
biết rõ loại lịch nào đã được sử dụng trong một giai đoạn lịch sử cụ
thể. tuỳ thuộc vào quan hệ bang giao giữa hai nước trong từng thời kỳ mà
lịch Việt Nam có lúc trùng có lúc lại lại khác với lịch Trung Quốc. Mặt
khác bản thân lịch Trung Quốc đã trải qua nhiều lần thay đổi, cải cách
(tính từ Thế kỷ 14 trước c.n là năm bắt đầu xuất hiện đến nay riêng lịch
Trung Quốc đã trải qua hơn 50 cải cách khác nhau), điều này làm cho
việc so sánh đối chiếu niên đại lịch sử giữa hai nước thêm phức tạp. Các
kết quả khảo cứu của Gs. Hoàng Xuân hãn và pgs. Lê Thành Lân cho biết:


      Trong 1000 năm Bắc thuộc (từ khi Triệu Đà đánh bại nhà
Thục và xâm chiếm nước ta đến lúc Đinh Bộ Lĩnh lập nên Đại Cồ Việt)
lịch dùng chính thức ở nước ta là lịch Trung Quốc hoặc thuộc phần phía
nam Trung Quốc bị phân chia (Việt sử ở thời kỳ này được ghi chép rất sơ
sài gây khó khăn cho việc khảo cứu).Trong thời kỳ đầu của nền độc lập từ
đời Đinh (969) đến hết thời Lý Thái Tông (1054) nước ta vẫn tiếp tục sử
dụng lịch nhà Tống ( như lịch Ung Thiên hoặc lịch Sùng Thiên).


      Từ đời Lý Thánh tông lên ngôi cuối năm 1054 Việt Nam
có lẽ bắt đầu tự soạn lịch riêng, Lý Thánh Tông đặt quốc hiệu là Đại
Việt, chấn hưng việc nhà nông, việc học. Lý Nhân Tông nối ngôi năm 1072
và 3 năm sau chiến tranh bùng nổ giữa Đại Việt và Tống ( Lý Thường Kiệt
xuất quân đánh Tống đẻ ngăn chặn), bang giao gián đoạn giữa hai nước cho
đến năm 1078,trong thời gian này chắc chắn nước ta đã dùng lịch riêng.


      Các đời Lý và Trần từ 1080 đến năm 1399; lúc đầu nước
ta dùng lịch được soạn theo phép lịch đời tống , sau chuyển sang sử dụng
lịch Thụ Thời ( có từ năm 1281 đời Nguyên) và năm 1339 vua Trần Hiến
Tông đổi tên lịch Thụ Thpì thành lịch Hiệp kỷ.


      Năm 1401 nhà Hồ ( thay nhà Trần tè năm 1399 đổi lịch
Hiệp kỷ sang lịch Thuận thiên, không rõ chỉ đổi tên hay phép làm lịch
cũng thay đổi.


      Năm 1407 nhà Hồ bị mất, nhà Minh đô hộ nước ta và dùng
lịch Đại Thống ( nhà Minh lên thay nhà Nguyên năm 1368 và dến năm 1384
thì đổi tên lịch Thụ thời thành lịch Đại Thống, nhưng phép lịch vẫn như
cũ. Năm 1428 nước ta được giải phóng nhưng triều Lê tiếp tục sử dụng
phép lịch Đại thống cho đến năm 1644 và theo Gs. Hoàng Xuân hãn thì phép
lịch này còn tiếp tục được sử dụng cho đến năm 1812 (Gia Long thứ 11
đời Nguyễn) mặc dù từ năm 1644 nhà Thanh đã thay thế nhà Minh và khoảng 3
năm sau thì chuyển sang dùng lịch Thời Hiến.


      Gs. Hoàng Xuân hãn rút ra kết luận trên dựa vào sự
phục tính lịch Đại Thống từ đời nhà Hồ đến năm 1812 và đem so sánh với
quyển Bách trúng kinh do ông sưu tầm được, quyển này in lịch từ năm Lê
Thần Tông Vĩnh Tộ thứ 6 (1624) đến năm Tây Sơn Cảnh Thịnh thứ 7 (1799).
Theo một số tư liệu thì vào thời Lê Trịnh( từ năm 1593 đến năm 1788)
lịch nước ta có tên là lịch Khâm thụ và Gs. Hoàng Xuân Hãn đồ rằng tên
này có từ đầu triều Lê, tên khác nhưng phép lịch có thể vẫn là phép lịch
Đại thống nếu như kết quả phục tính của Gs. Hoàng Xuân Hãn ở trên là
đúng. Nhà Mạc từ năm 1527-1592 nằm trong khoảng thời gian giữa đầu triều
Lê và thời Lê- Trịnh có lễ đã dùng lịch Đại thống do nhà MInh phát hành
ít nhất cũng là từ năm 1540.

Về giai đọan từ thời Lê - Trịnh đến năm 1802 có một số ý kiến khác:

      Qua khảo cứu cuốn Khâm định vạn niên thư (hiện lưu giữ
tại thư viện quốc gia Hà Nội) Pgs. Lê Thành Lân cho biết trong vòng 100
năm từ năm Giáp thìn 1544 đến năm 1643 lịch Việt Nam và Trung Quốc khác
nhau 12 lần, trong đó có 11 ngày Sóc , 1 ngày nhuận và tết. Điều này
khác với nhận định của Gs. Hoàng Xuân hãn cho rằng trước năm 1644 vào
thời Lê Trinh lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc cùng dùng theo phép lịch
Đại thống nên Giống nhau. Cũng theo Pgs. Lê Thành Lân từ năm Tân Mùi
(1631)đến năm Tân Dậu (1801)lịch ở đàng trong trong cuốn Khâm Định vạn
niên thư khác với lịch Trung Quốc 92 lần. lịch ở đàng trong tồn tại song
hành với lịch Lê- Trịnh (hai lịch khác nhau 45 lần) và lịch Tây Sơn (
hai lịch khác nha 5 lần), mặt khác lịch thời Tây Sơn từ năm Kỷ dậu
(1789) đến năm Tân Dậu (1801) khác với lịch nhà Thanh nhưng chưa có sử
liệu chứng minh điều này. Lịch đàng trong lúc này có tên là lịch Vạn
Toàn (hay Vạn Tuyền, phải đổi tên kị huý).


      Từ năm 1813 đến năm 1945: Nhà Nguyễn dùng phép lịch
thời Hiến ( giống như nhà Thanh)và gọi là lịch Hiệp Kỷ. Sau khi Pháp cai
trị nước ta họ cũng lập các bảng đối chiếu Lịch Dương với Lịch âm Dương
lấy từ Trung Quốc, trong khi nhã Nguyễn vẫn soạn và ban lịch của mình ở
Trung Kỳ.


      Việc chuyển sang dùng phép lịch thời Hiến là do công
của Nguyễn Hữu Thuận, khi đi sứ sang Trung Quốc ông đã mang về bộ sách
có tên là lịch tượng khảo thành và dâng lên vua Gia Long, sau đó vua sai
Khâm Thiên Giám dựa vào đấy để soạn lịch mới. Bộ sách về thiên văn và
lịch pháp này do vua Khang Hy sai các lịch quan Trung Hoa cùng với các
giáo sỹ Tây phương kết hợp biên soạn và vua Ung Chính sai đem khắc vào
năm 1723. Vào tháng chạp năm 1812 lịch Vạn Toàn được đổi tên thành Hiệp
Kỷ.


      Từ năm 1946 đến năm 1967: Trong giai đọan này Việt Nam
không biên soạn Lịch âm Dương mà các nhà xuất bản dịch từ lịch Trung
Quốc sang.


      Từ năm 1968 đến năm 2010: vào năm 1967 Nha khí tượng
công bố Lịch âm Dương Việt Nam soạn theo múi giờ 7 cho các năm từ 1968
đến năm 2000 (Sách lịch Thế kỷ XX).Trước đó vào năm 1959 Trung Quốc cũng
công bố Lịch âm Dương mới soạn theo múi giờ 8. Sau đó BAn lịch do K.s
Nguyễn Mậu Tùng phụ trách tiếp tục biên soạn l Việt Nam từ năm 2001 đến
năm 2010 in trong cuốn lịch n 1901-2010 (xuất bản năm 1992).


      (Tổ biên soạn Nha khí tượng được chuẩn bị Thành lập từ
năm 1959 dưới sự chỉ đạo cuẩ Gs. Nguyễn Xiển là giám đốc Nha khí tượng.
Tổ làm nhiệm vụ quản lý lịch nhà nước và biên soạn, dịch thuật lịch
Thiên văn Hàng hải cung cấp cho Hải quân. Đến năm 1967 tổ soạn được 33
năm Âm lịch, thi hành ở miền Bắc từ 1968. Lịch Thiên văn Hàng hải xuất
bản đến năm 1989,1990 thì kết thúc. Năm 1979 theo quyết định của Chính
Phủ, phòng Vật lý khí quyển và Thiên văn cùng bộ phận tính lịch chuyển
từ tổng cục Khí tượng thuỷ văn sang viện khoa học Việt Nam. Bộ phận quản
lý lịch nhà nước được đặt trụ sở thuộc Uỷ ban nghiên cứu vũ trụ Việt
Nam. Trong các năm từ 1968-1992 Ban lịch đã soạn thêm được một số năm Âm
lịch và kết quả thành bảng lịch Việt Nam (1901-2010). từ năm 1993-1997
do thay đổi về tổ chức hành chính (Uỷ ban vũ trụ giải tán ) nên Ban lịch
(thực tế chỉ còn một vài người) chuyển về văn phòng thuộc trung tâm
KHTN&CNQG. Ngày 16/4/1998 Giám đốc Trung tâm KHTN&CNQG (gọi tắt
là ban lịch nhà nước) trực thuộc Trung tâm thông tin Tư liệu.)


      Để thống nhất việc tính giờ và tính lịch dùng trong
các cơ quan nhà nước và giao dịch dân sự trong xã hội, ngày 8-8-1967
chính phủ đã ra quyết định số 121/CP do cố thủ tướng Phạm Văn Đồng ký
(ngày 14-10-2002 Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã ký quyết định số
134/2002/QĐ-TTg sửa một vài câu chữ trong Điều 1 của QĐ 121/Cp cho chính
xác hơn nhưng về cơ bản tinh thần của QĐ 121/CP không có gì thay đổi).
Theo QĐ 121/Cp giờ chính thức của nước ta là múi giờ thứ 7 bên cạnh
Dương lịch (lịch Gregorius) được dùng trong các cơ quan với nhân dân thì
Âm lịch vẫn dùng để tính năm tết dân tộc, một số ngày kỷ niệm lịch sử
và lễ tết cổ truyền. QĐ 121/Cp cũng nêu rõ Âm lịch dùng ở Việt Nam là Âm
lịch được tính theo giờ chính thức của nước ta chư Chỉ thị số 354/CT
của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Thông tư liên bộ số 88-TT/LB ngày
23-11-1970 của Bộ Văn Hoá và Nha Khí tượng, Quyết định 129-CP ngày
26-3-1979 của Hội đồng Chính phủ…


Những thay đổi về giờ pháp định trong Thế kỷ 20 ở Việt Nam:


      Mặc dù hầu hết đát liền nước ta nằm dọc theo múi giờ 7
(kinh tuyến 105 độ đông đi qua gần Hà Nội) nhưng trong Thế kỷ 20 này
giờ pháp định của nước ta đã bị nhiều lần thay đổi) theo ý định của
chính quyền thực dân và hà đương cục. sự biến động chính trị trong Thế
kỷ qua ở Việt Nam đã khiến cho giờ pháp định trong cả nước hay từng miền
bị thay đổi tới 10lần. Sau đây là các mốc thay đổi giờ pháp định trong
100 năm qua ở nước ta kể từ khi hình thành khái niệm này:


Ngày 1/7/1906


      Khi xây dựng xong Đài thiên văn Phủ Liễn, Chính quyền
Đông dương ra Nghị định ngày 9/6/1906 (Công báo Đông Dương ngày
18/6/1906)ấn định giờ pháp định cho tất cả các nước Đông Dương theo kinh
tuyến đi qua Phủ Liễn (104°17’17” đông Paris) kể từ 0 giờ ngày 1/7/1906


Ngày 1/5/1911

      Sau khi nước Pháp ký Hiệp ước quốc tế về múi giờ, theo
nghị định ngày 6/4/1911 (Công báo Đông Dương ngày 13/4/1911-trang 803)
quy định giờ mới lấy theo múi giờ 7 (tính từ kinh tuyến đi qua
Greenwich) cho tất cả các nước Đông Dương bắt đầu từ 0 giờ ngày
1/5/1911.


Ngày 1/1/1943

      Chính phủ Pháp ra nghị định ngày 23/12/1942 (Công báo
Đông Dương ngày 30/12/1942)liên kết Đông Dương vào múi giờ 8 và do vậy
đồng hồ được vặn nahnh lên 60 phút vào lúc 23 giờ ngày 31/12/1942.


Ngày 14/3/1945

      Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp và buộc các nước
Đông Dương theo múi giờ của Tokyo (Nhật Bản) tức là múi giờ 9 nên giờ
chính thức lại được vặn nhanh lên 1 giờ vào 23 giờ ngày 14/3/1945.


Ngày 2/9/1945


      Sau cách mạng tháng Tám Chính phủ Lâm thời nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố lấy múi giờ 7 làm giờ chính thức (Sắc lệnh
số năm/SL Của Bộ nội vụ).


Ngày 1/4/1947


      Theo nghị định ngày 28/3/1947 của chính quyền thực dân
(Công báo Đông Dương ngày 14/10/1947) thì trong các vùng bị tạm chiếm ở
Việt Nam, ở Lào và Campuchia giờ chính thức là múi giờ 8 kể từ ngày
1/4/1947. Tuy nhiên trong các vùng giải phóng vẫn giữ múi giờ 7 và sau
Hiệp định giơnevơ các vùng giải phóng ở miền bắc cũng theo múi giờ 7 (Hà
nội từ 10/1954 và Hải phòng cuối tháng 5/1955); riêng Lào trở lại múi
giờ 7 vào ngày 15/4/1955.


Ngày 1/7/1955


      Miền Nam Việt Nam trở lại múi giờ 7 từ 0 giờ ngày 1/7/1955.

Ngày 1/1/1960


      Chính quyền Sài Gòn ra Sắc lệnh số 362-TtP ngày
30/12/1959 quy định giờ chính thức của Nam Việt Nam là múi giờ 8, đồng
hồ phải vặn nhanh lên 1 giờ kể từ 23 giờ đêm ngày 31/12/1959 (tức 0 giờ
ngày 1/1/1960)


Ngày 31/12/1967

      Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Quyết đinh
121/CP ngày 8/8/1967 khẳng định giờ chính thức của nước ta là múi giờ 7
kể từ 0 giờ ngày 1/1/1968.


Ngày 13/6/1975


      Sau khi miền nam được hoàn toàn giải phóng, chính phủ
cách mạng Lâm thời đã ra quyết định chính thức trở lại múi giờ 7 và giờ
Sài Gòn được vặn chậm lại 1 giờ.





 (Theo Lịch Việt Nam Thế kỷ XX-XXI, tác giả Thạc sỹ Trần Tiến Bình, ban lịch nhà nước)


HLV Hồ Phi Long
 
Diễn đàn thảo luận » ..:: Thế giới cộng đồng ::.. » Khoa học thường thức » Lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Page 1 of 11
Search:

Login form